Diễn Giải Sáng Thế Ký Chương 1:
Tất cả những gì đề cập đến trong chương 1 của Sáng Thế Ký này đều là biểu tượng (symbol) hoặc ẩn dụ (metaphors), dùng để diễn tả những thứ, những hiện hữu trong thế giới thần linh (spiritual worlds), vô hình. Tất cả những gì đề cập đến ở đây (ngày, đêm, trời, đất, biển, người, thú, chim, cá, côn trùng, cây cỏ, v.v.) đều không phải là nói về những thứ cụ thể, hữu hình như trong thế giới vật chất hiện tại của chúng ta.
Khởi thủy, tất cả chỉ có thể nói là ở trong một trạng thái chưa thể hiện, không thể biết, không thể thấy, không thể cảm nhận được, nên phải diễn tả qua những tượng trưng như “…vô hình và trống không, sự mờ tối ở trên mặt vực.“ (STK 1:2)
Một trong những định luật căn bản nhất của mọi hiện hữu (existences) là luật Chu Kỳ. Ngay cả Vũ trụ, Trời Đất cũng tuần hoàn theo chu kỳ riêng của nó. Chu kỳ của Trời Đất này (gọi là Đại Chu Kỳ thì đúng hơn) chúng ta chỉ có thể đại khái diễn tả được qua hai khái niệm, tạm gọi là Sự Thể Hiện (= Sự Sáng, hay Manifestation) và Sự Không Thể Hiện (= Sự Tối, Ẩn Tàng, hay Unmanifestation) mà thôi.
Kinh Ê-phê-sô, chương 5, tiết 13 cũng có nói: “…phàm điều chi đã tỏ ra thì trở nên sự sáng vậy.” (Bản tiếng Anh, Ephesians 5:13, thì rõ ràng hơn: “…for whatsoever doth make manifest is light.”. Chữ “manifest” dịch là “thể hiện” hay “thị hiện” thì đúng nghĩa hơn là “tỏ ra”).
Khi Đức Chúa Trời phán “Phải có sự sáng; thì có sự sáng.” (STK 1:3) thì đó là lúc bắt đầu một Đại Chu Kỳ mới, đem mọi “hiện hữu” từ “Đêm” (từ Không Thể Hiện, hay Vực Mờ Tối) sang “Ngày” (sang Thể Hiện, hay Sự Sáng).
Ngày và Đêm ở đây tượng trưng cho hai phần của một Đại Chu Kỳ của Vũ Trụ: Ngày là thời kỳ Thể Hiện (manifested period), Đêm là thời kỳ Không Thể Hiện (unmanifested period). Sáu “ngày” sáng thế của Đức Chúa Trời là sáu “Đại Chu Kỳ”. Sau đó, Đức Chúa Trời “nghỉ việc” vào ngày thứ bảy. Chu kỳ này (ngày thứ bảy) là chu kỳ mà Đức Chúa Trời giao phó một sứ mạng cho “Con của Đức Chúa Trời” (hay Con Người) thi hành. Sự trông mong, có thể nói là “Ý Trời”, vào việc chu toàn sứ mạng này là mục đích của Đức Chúa Trời (God) khi tạo ra “Con Người”.
Trong sự sáng thế ở ngày thứ hai và ba, Biển, Trời, và Đất ở đây tượng trưng cho những “cõi” của các dạng “năng lượng thần” (spiritual energy) khác nhau, vừa từ trong trạng thái Không Thể Hiện (unmanifested) phát động sang trạng thái Thể Hiện (manifested). Cây cỏ, hạt trái tượng trưng cho những phương tiện để phân phối những năng lượng thần nguyên thủy sang những dạng phân hóa khác để duy trì sự sống và sinh hoạt (hiện hữu) của những thứ khác được sáng tạo trong những “ngày” tiếp theo.
Những thứ khác như các “vì sáng”, các sinh vật dưới biển, trên trời và trên đất tượng trưng cho những thực thể “anh linh” (spiritual beings) đầu tiên, được “sáng tạo” (created), để trở thành những “công dân” ở những cõi Thần này. Thí dụ như loài chim bay trên trời là tượng trưng cho những “sinh linh” ở cảnh giới (cõi) này mà bây giờ chúng ta gọi chung là … Thiên Thần. Con Người vì được tạo ra theo “hình tượng” của Đức Chúa Trời, là “hình ảnh” của Đức Chúa Trời, là “Con của Đức Chúa Trời”, nên được Đức Chúa Trời giao cho quyền quản trị tất cả những gì Đức Chúa Trời tạo ra, bất kể là Thiên Thần, Thủy Thần, Thổ Thần, v.v. Con Người ở trên loài vật, do đó hình ảnh “loài vật” như Chim, Cá, Thú Rừng, v.v được dùng làm biểu tượng để diễn tả về các “sinh linh”, các loại “thần” khác ở cõi Thần này.
Câu quan trọng nhất trong Chương 1 của Sáng Thế Ký, khi nói về việc Đức Chúa Trời tạo ra Con Người, lại là một câu bị hiểu sai lạc một cách tai hại nhất. Câu ấy là:
“Ðức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài; Ngài dựng nên loài người giống như hình Ðức Chúa Trời; Ngài dựng nên người nam cùng người nữ.” (STK 1:27)
Vì câu này mà phần lớn, nếu không muốn nói là … tất cả, những ai đọc Thánk kinh đều nghĩ là khi Đức Chúa Trời tạo ra loài người, Ngài tạo ra hai thân thể vật chất, xác thịt, như chúng ta thấy bây giờ, gọi là “Người Nam” và “Người Nữ”. Bản tiếng Anh khá hơn một chút, không dùng hai chữ “Nam” và “Nữ”, nhưng dùng hai chữ “Male” (Đực) và “Female” (Cái), thành ra cũng chẳng khá hơn bao nhiêu. Thật ra, thay vì viết là: “…Ngài dựng nên người nam cùng người nữ.“, mệnh đề này nên được viết là: “…Ngài dựng nên một thực thể bao gồm cả Dương và Âm.” … Thực thể này là biểu tượng (symbol), tượng trưng cho “Con Người”, là “hình ảnh” của Thượng Đế, ẩn tàng quyền năng sáng tạo như Thượng Đế, nên bao gồm trọn vẹn, toàn thể cả Dương lẫn Âm trong Trời Đất.
“Người Nam” và “Người Nữ” ở đây chắc chắn không phải là “Người” với thân xác xương thịt (như hiểu theo nghĩa đen) nếu chúng ta căn cứ thêm vào những lời của chúa Jesus, thuật lại trong kinh Giăng (kinh John) như sau:
- “Đức Chúa Trời là Thần;” (Giăng, chương 4, tiết 24) dịch từ nguyên bản tiếng Anh “God is a Spirit;” (John 4:24), và, rõ ràng hơn: …
- “Hễ chi sanh bởi xác thịt là xác thịt; hễ chi sanh bởi Thánh Linh là thần.” (Giăng, chương 3, tiết 6) dịch từ nguyên bản tiếng Anh “That which is born of the flesh is flesh; and that which is born of the Spirit is spirit.” (John 3:6)
Bởi vì Đức Chúa Trời là “Thần” (God is a Spirit), do đó những gì sanh ra bởi Đức Chúa Trời cũng phải là “Thần” (born of the Spirit is spirit), không thể là xác thịt vật chất được.
Trở lại, về mục đích của Đức Chúa Trời (God) khi tạo ra “Con Người”, có thể nói là nằm vỏn vẹn trong mấy chữ ở Sáng Thế Ký Chương 1, tiết 28, như sau:
“Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất; hãy làm cho đất phục tùng… “ (bản tiếng Anh: “Be fruitful, and multiply, and replenish the earth, and subdue it ...”)
“Hãy sanh sản, thêm nhiều” là phiên dịch từ tiếng Anh “Be fruitful, and multiply”. Nhắc lại, hiểu theo nghĩa biểu tượng (symbolically), “Con Người” ở đây không phải là những thân thể xác thịt, do đó “Be fruitful, and multiply” có nghĩa là “Hãy đạt được nhiều thành quả, và phát triển hơn lên” thì đúng hơn.
“Làm cho đầy dẫy đất” là phiên dịch từ tiếng Anh “Replenish the earth”. Động từ “replenish” có nghĩa là “làm đầy lại, hoàn chỉnh lại, cải tổ lại, đem trở lại trạng thái lúc trước, lúc ban đầu, lúc chưa cần phải … sửa chữa”.
Nếu nhất định hiểu theo nghĩa đen (literally), cho rằng Đức Chúa Trời tạo ra hai thân thể xác thịt (nam và nữ) để sau đó … “sanh sản thêm nhiều cho đầy mặt đất” (như ruồi? như thỏ?) thì chẳng những hơi “tầm thường hóa” mục đích của Đức Chúa Trời, mà mệnh đề ngay sau đó “Hãy làm cho đất phục tùng” trở thành … lạc lõng, ý nghĩa không dính líu gì đến hai mệnh đề trước (Chỉ “sinh con đẻ cái” thì có dính líu gì đến sự “làm cho đất phục tùng”?)
“Làm cho đất phục tùng” là phiên dịch từ bản tiếng Anh “and subdue it” (“it” ở đây là chữ dùng thay chỗ cho “the earth”). Động từ “subdue” có nghĩa là “chinh phục, làm cho khuất phục, làm cho tuân theo”. “Làm cho đất phục tùng” là công tác đòi hỏi để hoàn thành cái sứ mạng “hoàn chỉnh lại, cải tổ lại, sửa chữa lại … đất”.
Cần nhắc lại ý nghĩa của chữ “đất” ở đây. Chữ này, dùng như một biểu tượng (symbol) trong hai chương đầu của Sáng Thế Ký, không phải là “đất” như chúng ta thường hiểu theo nghĩa đen (như trái đất, đất đá, đất cát, v.v.), mà là để chỉ trạng thái “vật chất nguyên thủy” ngay sau khi bắt đầu phân hóa từ phát tác của … “hư vô” (của cái “…vô hình và trống không, sự mờ tối ở trên mặt vực; “ - STK 1:2).
Tóm lại, theo Sáng Thế Ký chương 1 thì sau khi bắt đầu một Đại Chu Kỳ mới, đem vạn vật, và mọi sự, từ trạng thái Không Thể Hiện (Unmanifested) sang trạng thái Thể Hiện (Manifested), Đức Chúa Trời (hay God) nhận thấy có những cái “không ổn”, cần phải tu chỉnh, sửa chữa trong “vật chất nguyên thủy” (hay “Đất”). Do đó Đức Chúa Trời (God) mới tạo ra “Con Người” để “đại diện” cho mình thi hành công việc đó. Một khi phát huy, đạt được thành quả trong sự tu chỉnh, sửa chữa “đất” xong thì tức là đã chinh phục, bình định được những cái “không ổn” trong cõi vật chất, đã “làm cho đất phục tùng”.
Công việc (hay Sứ mạng) đó là cái mà chúa Jesus ám chỉ trong những câu nói như:
“Trong khi còn ban ngày, ta phải làm trọn những việc của Ðấng đã sai ta đến; tối lại, thì không ai làm việc được.” (kinh Giăng 9:4; nhắc lại: “ban Ngày” tượng trưng cho thời kỳ “Thể Hiện”, “Tối lại” tượng trưng cho thời kỳ “KhôngThể Hiện”)
hay là:
” …. Những lời ta nói với các ngươi, chẳng phải ta từ nói; ấy là Cha ở trong ta, chính Ngài làm trọn việc riêng của Ngài.” (kinh Giăng 14:10)
No comments:
Post a Comment