Phụ Chú Sáng Thế Ký Chương 2



Có hai điểm đáng chú ý trong chương 2 của Sáng Thế Ký sau khi A-đam được Giê-hô-va Đức Chúa Trời nặn ra từ “bụi đất”…:

- Giê-hô-va Đức Chúa Trời dẫn các thú vật đến cho A-đam đặt tên để  “… hầu cho tên nào A-đam đặt cho mỗi vật sống, đều thành tên riêng cho nó.” (STK 2:19), và …
- Giê-hô-va Đức Chúa Trời  làm cho A-đam ngủ mê, rồi lấy một chiếc xương sườn của A-đam ra, dùng đó làm nên một “người nữ, đưa đến cùng A-đam.” (STK 2:22)

Hai điểm này có thể nói là tương ứng với hai sự kiện tương tự, đề cập đến trong kinh Dịch và Đạo Đức Kinh của Lão Tử.  Nhắc  lại, hai câu thứ ba và thứ tư trong Đạo Đức Kinh như sau: “Vô danh thiên địa chi thủy; Hữu danh vạn vật chi mẫu“.

Trong phần “Phụ Chú Sáng Thế Ký Chương 1” trước, chúng ta đã nói đến sự tương đương của câu thứ ba trong Đạo Đức Kinh “Vô danh thiên địa chi thủy“ với diễn tả về cái “mờ mịt” trong hai câu mở đầu của Sáng Thế Ký (như: Dựng nên Trời Đất, Vô hình, Trống không, Mờ Tối, Vực …) 

“Ban đầu Ðức Chúa Trời dựng nên trời đất. Và đất là vô hình và trống không, sự mờ tối ở trên mặt vực; …” (STK 1:1, 1:2)

Với câu thứ tư của Đạo Đức Kinh: “Hữu danh vạn vật chi mẫu” (= Cái có tên là mẹ của muôn loài), hay đôi khi viết là: “Hữu, danh vạn vật chi mẫu”, và diễn dịch là: “Có (Hiện hữu), là tên mẹ của vạn vật”, chúng ta lại cũng có thể thấy một ý niệm tương đương (với Thánh kinh). Ý niệm ẩn tàng trong câu này là tất cả mọi thứ chúng ta “biết”, hay nhận “thức” được là “có” (hiện hữu), đều mang một hình ảnh, một danh xưng, một ý tưởng, hay một khái niệm nào đó.  Nếu cái gì không có tên, không có danh xưng, không có hình ảnh, không có khái niệm (về nó), thì không ai “biết” đến nó, biết là nó “có”, nó hiện hữu. Nói khác đi, cái “tên” (danh) là cái làm cho vạn vật hiện hữu, là cái … sinh đẻ ra vạn vật, là mẹ của vạn vật.

Đó cũng là ý niệm ẩn tàng trong sự nói về Cây Kiến Thức (“Biết”) và việc A-đam “đặt tên cho mỗi vật sống” diễn tả trong chương 2 Sáng Thế Ký.  Nói đến khởi thủy của “Biết” là ám chỉ giai đoạn tiến triển từ “Nhất Quán” vào “Nhị Nguyên” hay “Lưỡng Nghi”, vì “Biết” không thể là một thực thể hay một hiện tượng “độc lập”.  Trong “Biết” luôn luôn ẩn tàng hai yếu tố: Ai biết? (chủ thể) và Biết cái gì? (đối tượng).

Bởi thế, sự kiện tách rời Âm Dương khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời tạo ra “người nữ” trong Sáng Thế Ký chương 2 cũng tương đương với giai đoạn “Nhất Quán sinh Nhị Nguyên (hay Lưỡng Nghi)” trong kinh Dịch, và với hệ luận của ý niệm “(Có) tên là mẹ của vạn vật” trong Đạo Đức Kinh.

Đi vào “Nhị Nguyên” rồi thì mới có thể “Biết”. “Biết” rồi thì mới có ý niệm về chủ thể và đối tượng, mới sinh ra ý thức về bản ngã và tha nhân.  Nói khác đi, “Biết” rồi thì mới có ý thức về “cái ta” (self-awareness), và mới biết “hổ thẹn”.

Chương 2 Sáng Thế Ký giới thiệu Cây Kiến Thức (“Biết”) và sự tách rời Âm Dương, nhưng hai biểu tượng của Âm, Dương (A-đam và vợ) vẫn chưa “ăn quả” của Cây Kiến Thức (chưa “biết”).  Do đó, câu cuối cùng của Chương 2 Sáng Thế Ký mới là: “Và, A-đam và vợ, cả hai đều trần truồng, mà chẳng hổ thẹn.“ ... Muốn “hổ thẹn” thì phải đợi đến chương kế tiếp (Sáng Thế Ký Chương 3) sau khi A-đam và Ê-và đã “ăn” trái của Cây Kiến Thức, và “mắt hai người đều mở ra, biết rằng mình lõa lồ…” (Sáng Thế Ký Chương 3, Tiết 3:7).


No comments:

Post a Comment