Giáo Lý Sáng Thế Ký Chương 3


Chương 3 của Sáng Thế Ký kể lại chuyện “A-đam / Ê-và ăn trái cấm và bị đuổi ra khỏi vườn Địa Đàng”, mở đầu với việc giới thiệu “con rắn”, một vai trò chủ chốt trong tiến trình đi vào thế giới vật chất của “Con Người”. Câu đầu tiên ở chương 3 của Sáng Thế Ký viết như sau:

“Vả, trong các loài thú đồng mà Giê-hô-va Ðức Chúa Trời đã làm nên, có con rắn là giống quỉ quyệt hơn hết. Rắn nói cùng người nữ rằng: Mà chi! Ðức Chúa Trời há có phán dặn các ngươi không được phép ăn trái các cây trong vườn sao?“

“Người Nữ” cho con rắn biết hai người được phép ăn các trái cây trong vườn, ngoại trừ trái của Cây Kiến Thức ở giữa vườn (như đã nói đến ở Sáng Thế Ký chương 2, tiết 2:9 như sau: “Giê-hô-va Ðức Chúa Trời khiến đất mọc lên các thứ cây đẹp mắt, và trái thì ăn ngon; giữa vườn lại có cây sự sống cùng cây biết điều thiện và điều ác.”), vì với thứ cây trái này:

“…Ðức Chúa Trời có phán rằng: Hai ngươi chẳng nên ăn đến và cũng chẳng nên đá-động đến, e khi hai ngươi phải chết chăng.“ (STK 3:3)

Tuy nhiên con rắn lại nói với “Người Nữ” rằng: (STK 3:4)

”Hai ngươi chẳng chết đâu; nhưng Ðức Chúa Trời biết rằng hễ ngày nào hai ngươi ăn trái cây đó, mắt mình mở ra, sẽ như Ðức Chúa Trời, biết điều thiện và điều ác.”

Sau đó, theo lời kể của Thánh kinh, dĩ nhiên “Người Nữ” đã hái trái của cây Kiến Thức vì “… thấy trái của cây đó bộ ăn ngon, lại đẹp mắt và quí vì để mở trí khôn, bèn hái ăn, rồi trao cho chồng đứng gần mình, chồng cũng ăn nữa.“ (STK 3:6)

Ăn xong thì “mắt hai người đều mở ra, biết rằng mình lõa lồ, bèn lấy lá cây và đóng khố che thân“ (STK 3:7).  Rồi đến buổi chiều, khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời đi ngang qua vườn, A-đam và vợ ẩn mình trong bụi cây để tránh mặt. Nhưng Giê-hô-va Đức Chúa Trời gọi A-đam ra và hỏi lý do, thì A-đam thưa rằng: “Tôi có nghe tiếng Chúa trong vườn, bèn sợ, bởi vì tôi lõa lồ, nên đi ẩn mình“ (STK 3:10).

Nghe qua, Giê-hô-va Đức Chúa Trời biết ngay là … thôi rồi, “có chuyện”, bèn hỏi lại A-đam rằng: “Ai đã chỉ cho ngươi biết rằng mình lõa lồ? Ngươi có ăn trái cây ta đã dặn không nên ăn đó chăng?“ (STK 3:11)… A-đam thú nhận là “đã ăn”, nhưng đổ tại vì bị “người nữ mà Chúa đã để gần bên tôi “ đưa cho ăn (STK 3:12).  Giê-hô-va Đức Chúa Trời hỏi tới “Người Nữ” thì “Người Nữ” đổ tại: “Con rắn dỗ dành tôi và tôi đã ăn rồi.” (STK 3:13)

Sau đó, Giê-hô-va Đức Chúa Trời bèn nguyền rủa “con rắn” và hứa hẹn với nó rằng:
“Ta sẽ làm cho mầy cùng người nữ, dòng dõi mầy cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chân người” (STK 3:15)

Với “Người Nữ” thì Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán rằng: “Ta sẽ thêm điều cực khổ bội phần trong cơn thai nghén; ngươi sẽ chịu đau đớn mỗi khi sanh con; sự dục vọng ngươi phải xu hướng về chồng, và chồng sẽ cai trị ngươi.“ (STK 3:16)

Còn với A-đam thì: “Vì ngươi nghe theo lời vợ mà ăn trái cây ta đã dặn không nên ăn, vậy, đất sẽ bị rủa sả vì ngươi; trọn đời ngươi phải chịu khó nhọc mới có vật đất sanh ra mà ăn.“ (STK 3:17) … Chẳng những thế, Giê-hô-va Đức Chúa Trời còn thêm vào:

”Ðất sẽ sanh chông gai và cây tật lệ, và ngươi sẽ ăn rau của đồng ruộng; ngươi sẽ làm đổ mồ hôi trán mới có mà ăn, cho đến ngày nào ngươi trở về đất, là nơi mà có ngươi ra; vì ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về bụi.“ (STK 3:18 và 3:19)

Một điểm đáng chú ý là trong Sáng Thế Ký, cho tới lúc này “Người Nữ” mới được đặt tên: “A-đam gọi vợ là Ê-và, vì là mẹ của cả loài người.“ (STK 3:20).  Câu này trong phiên bản tiếng Anh là: “And Adam called his wife's name Eve; because she was the mother of all living.“ (Gen 3:20)  Do đó, dịch “mother of all living”“mẹ của tất cả mọi sinh vật” thì có lẽ chính xác hơn!

Sau khi đã phán xong mọi nguyền rủa thì: “Giê-hô-va Ðức Chúa Trời lấy da thú kết thành áo dài cho vợ chồng A-đam, và mặc lấy cho.” (STK 3:21), lại còn lo rằng:

“…về sự phân biệt điều thiện và điều ác, loài người đã thành một bực như chúng ta; vậy bây giờ, ta hãy coi chừng, e loài người giơ tay khiến cũng hái trái cây sự sống mà ăn và được sống đời đời chăng.“ (STK 3:22) 

Bởi vậy: “Giê-hô-va Ðức Chúa Trời bèn đuổi loài người ra khỏi vườn Ê-đen đặng cày cấy đất, là nơi có người ra.“ (STK 3:23).  Câu này bản Thánh kinh tiếng Việt dịch hơi vắn tắt, thành ra mệnh đề “là nơi có người ra“ không được rõ nghĩa lắm. Câu này trong phiên bản tiếng Anh là:

“Therefore the LORD God sent him forth from the garden of Eden, to till the ground from whence he was taken.“ (Gen 3:23); nếu hiểu chính xác theo nghĩa của Anh ngữ thì nên dịch là: “Cho nên Giê-hô-va Đức Chúa Trời đưa loài người ra khỏi vườn Ê-đen, để cày cấy đất, nơi từ đó loài người đã được làm ra”.

(Nhắc lại: “Đất” là “nơi từ đó loài người đã được làm ra” vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã dùng “bụi đất” để nắn ra A-đam, và A-đam tượng trưng cho “loài người”)


No comments:

Post a Comment