Tương tự như Sáng Thế Ký chương 1, tất cả những gì đề cập đến trong chương 2 của Sáng Thế Ký này cũng đều là biểu tượng (symbol) hoặc ẩn dụ (metaphors), dùng để diễn tả những thứ, những hiện hữu trong thế giới thần linh (spiritual worlds), vô hình, do đó không thể hiểu theo nghĩa đen (literally), xem đó là những sự kiện xảy ra trong thế giới vật chất được.
Chương 2 của Sáng Thế Ký cũng không phải là sự lập lại những gì đã kể ra trong chương 1 như nhiều người tưởng, nếu chỉ đọc lướt qua. Hãy để ý, ngay câu đầu Chương 2 của Sáng Thế Ký đã nói ngay: “Ấy vậy, trời đất và muôn vật đã dựng nên xong rồi.…”, sau đó còn nói rõ thêm là “…ngày thứ bảy, Ngài nghỉ các công việc đã dựng nên và đã làm xong rồi… “ (“Ngài” ở đây là đang nói về Đức Chúa Trời).
Tóm lại, mọi việc sáng tạo (creation) đều “đã làm xong rồi”, nhưng kế tiếp lại là một câu gây ra sự hiểu lầm là những gì vừa nói ở chương 1 Sáng Thế Ký lại đang được lập lại ở chương 2, nhất là qua bản dịch Thánh kinh chính thống tiếng Việt như sau:
“Ấy là gốc tích trời và đất khi đã dựng nên, trong lúc Giê-hô-va Ðức Chúa Trời dựng nên trời và đất.“ (STK 2:4)
Nguyên bản trong Thánh kinh chính thống tiếng Anh của câu trên đây là như sau:
“These are the generations of the heavens and of the earth when they were created, in the day that the LORD God made the earth and the heavens.“ (Gen 2:4)
Hãy để ý những chữ “heavens“ và “generations of the heavens“ ở số nhiều (plural). Tiếng Việt thường dịch “heaven” là “thiên đàng” hay “thượng giới”, hoặc “trời” (là chữ dùng bởi Thánh kinh chính thống tiếng Việt). Như vậy là “trời” không phải chỉ có một, mà là còn có “nhiều … thế hệ” (generation = thế hệ, sự tạo ra).
Ngay cả thánh Phao-lô (Saint Paul), một tông đồ của chúa Jesus, khi viết trong chương 12, câu 2, của kinh 2 Cô-rinh-tô (2 Corinthians 12:2) cũng ám chỉ có “nhiều trời” như sau: “Tôi biết một người trong Ðấng Christ, cách mười bốn năm trước, đã được đem lên đến từng trời thứ ba…”. Những chữ “từng trời thứ ba“ là dịch ra từ ba chữ “the third heaven” ở bản Thánh kinh tiếng Anh (từ đó suy ra là ít nhất cũng phải có ba “heavens” hay ba “cõi trời”). Hiển nhiên trong tiến trình tạo ra “trời và đất” đã có nhiều cõi (loại) trời và đất được sáng tạo, nhưng tất cả đều được gọi chung là “trời (heaven)” và “đất (earth, dust, ground)”, có thể là vì lý do giới hạn của ngôn ngữ trong thế giới vật chất khi dùng để diễn tả, đề cập đến những thứ thuộc thế giới tinh thần, hay thế giới “thần linh” (spiritual world).
Ngoài ra, không phải chỉ có nhiều hơn một “trời”, mà còn có nhiều hơn một “God”. Bản Thánh kinh tiếng Anh nhấn mạnh chữ “LORD” (dùng chữ in hoa) để phân biệt giữa “God” (dịch là “Đức Chúa Trời”) ở Sáng Thế Ký chương 1, và “the LORD God” (dịch là “Giê-hô-va Đức Chúa Trời”) ở Sáng Thế Ký chương 2. Hiển nhiên là Giê-hô-va Đức Chúa Trời (the LORD God) của chương 2 khác với Đức Chúa Trời (God) của chương 1. Tiến trình sáng tạo của hai vị này cũng khác nhau, và là ở hai cảnh giới (cõi) khác nhau.
Trong Sáng Thế Ký chương 1, Đức Chúa Trời tạo ra cây cỏ, hoa trái trước; rồi đến các thú vật trong nước, trên trời, dưới đất; và sau cùng mới tạo ra loài người (”nam, nữ” cùng một lúc). Trong Sáng Thế Ký chương 2, Giê-hô-va Đức Chúa Trời tạo ra người nam (A-đam) trước; rồi mới lập ra vườn địa đàng (trồng cây, lập sông tưới vườn …); kế đến mới tạo ra các thú vật trên trời và dưới đất; và sau cùng mới tạo ra người nữ (từ xương sườn của A-đam).
Cảnh giới của Đức Chúa Trời ở Sáng Thế Ký chương 1 “cao hơn” (ít thô trược hơn) cảnh giới của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ở Sáng Thế Ký chương 2. Trong tiến trình đi vào (hay đi xuống) cõi vật chất, cái bản chất “thần” (spirit) nguyên thủy, cái “hình ảnh” phóng xuất ra lúc đầu tiên, từ Đức Chúa Trời, càng đi xuống những cõi dưới thì lại càng phải được bao phủ bởi những “chất liệu”, những bản thể của các cõi dưới. Nói khác đi, phần “thanh cao” bên trong càng ngày càng được bao phủ bởi những phần “thô trược” hơn ở bên ngoài, cho tới khi xuống tới tầng cuối cùng của cõi vật chất, thì mới là cái thân thể xác thịt (người phàm) trong thế giới vật chất bây giờ.
“Bụi đất “ (nắn nên hình người.) ở cảnh giới của Giê-hô-va Đức Chúa Trời là chất liệu dùng để tạo ra cái vỏ, hay cái “thể xác” (body) cho cái “hình ảnh bao gồm cả Âm Dương” ở cảnh giới trên “dùng”. Cảnh giới trên tức là cảnh giới của Đức Chúa Trời (God). “Hình người” ở đây là A-đam. Nếu ví cái “hình ảnh bao gồm cả Âm Dương” là hồn, thì A-đam là cái xác, mặc dù bản chất của cái xác này vẫn còn ở một thể thanh cao (vô hình) hơn bản chất thân thể xác thịt (người phàm) của chúng ta rất nhiều. Nói rõ hơn, Giê-hô-va Đức Chúa Trời tạo ra A-đam để “bọc” bên ngoài “con người THẬT”, bên ngoài cái “…loài người như hình ta và theo tượng ta …“ (STK 1:26) phóng xuất ra từ Đức Chúa Trời (God).
Cần chú ý thêm một chút: Chữ “dùng” đây có nghĩa là "đi qua", ở trong, giống như người tài xế dùng cái xe hơi. Cái xe hơi không phải là người tài xế. Cái "thể" (the body) không phải là người dùng cái thể. A-đam không phải là Âm và Dương. Âm và Dương dùng A-đam, đi qua A-đam. A-đam đến từ “Bụi Đất”. Âm và Dương đến từ Đức Chúa Trời (God, hay Thượng Đế). A-đam không phải là Dương và Âm (Male và Female) mà là cái "thể" cho Dương và Âm dùng để làm công tác mà Thượng Đế giao cho cái Dương và Âm. Công tác đó là việc đã được mô tả trong Sáng Thế Ký chương 1, tiết 28 (Genesis 1:28) như sau:
“Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất; hãy làm cho đất phục tùng, hãy quản trị loài cá dưới biển, loài chim trên trời cùng các vật sống hành động trên mặt đất.”
A-đam đến từ “Đất”, do Giê-hô-va Đức Chúa Trời nặn ra từ “bụi đất”. Tuy nhiên “đất” đây không phải là đất mà chúng ta thường gọi, như trong những chữ “mặt đất, trái đất, đất đá”. Đất này là đất ở vườn địa đàng, là biểu tượng (symbol) cho một loại “vật chất” ở cảnh giới (cõi) “thấp” hơn cảnh giới của Đức Chúa Trời. Loại vật chất này chỉ là “vật chất” đối với Đức Chúa Trời, nhưng bản thể của nó vẫn còn rất là “thần linh”, vô hình, vô dạng, đối với thế giới phàm trần của chúng ta.
Tương tự, những thứ như “…cây sự sống cùng cây biết điều thiện và điều ác.“ đều là những biểu tượng, không phải là những cây bình thường như chúng ta nhìn thấy trong thế giới phàm trần. Cây có nhiều ngành, nhiều chi nhánh. Sự sống (Life) và cái “biết”, kiến thức (Knowledge) cũng có, cũng phân hóa ra nhiều chủng loại, nhiều lãnh vực, nhiều ngành (thí dụ như ngành y học, ngành điện tử, v.v.), do đó “cây” được dùng làm biểu tượng để diễn tả sự bắt đầu phân hóa trong tiến trình đi vào “vật chất” của những “năng lượng thần” nguyên thủy, từ không tên, không hình dạng, thành những dạng chuyên biệt hơn, có thể nhận thức được như những nguyên mẫu (prototype) của sự sống (life), hay sự “biết” (tri thức, kiến thức).
Sau khi “lấy bụi đất nắn nên hình người” (STK 2:7), lúc Giê-hô-va Đức Chúa Trời “…hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh“ (STK 2:7), là lúc hai “thể” Dương và Âm được đưa vào trong cái hình hài đến từ “bụi đất” (A-đam). “Cái Thật” của con người ta là Tinh Thần (Spirit), là hình ảnh (image) của Đức Chúa Trời (God, hay Thượng Đế), là cái bao gồm cả Dương và Âm. Adam là hình hài, là cái "xác" mà Dương với Âm này nằm ở trong. Đức Chúa Trời có quyền năng sáng tạo (creative power) vì Đức Chúa Trời bao gồm cả Âm và Dương. A-đam, là biểu tượng của “Con Người”, bao bọc cả Âm và Dương, do đó, trong A-đam cũng ẩn tàng quyền năng sáng tạo như Thượng Đế.
Hai phần Âm và Dương này phải được tách ra trong tiến trình của Tinh Thần (Spirit) đi sâu vào thế giới vật chất. Sự tách rời hai phần Âm / Dương trong A-đam được tượng trưng qua việc Giê-hô-va Đức Chúa Trời lấy “xương sườn” của A-đam để tạo ra “người nữ”. Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã có thể cũng lấy “bụi đất” để nặn ra “người nữ”, nhưng như thế thì “người nữ” không phải là tượng trưng cho cái “Âm” của thực thể trọn vẹn “Dương / Âm” đến từ Thượng Đế. Nên nhớ là “A-đam” cũng như “người nữ” ở đây là biểu tượng (symbol), không phải là những thân thể xác thịt trong thế giới vật chất.
Mặc dù A-đam không phải là một thân hình với xác phàm vật lý như chúng ta ở thế giới vật chất bây giờ, nhưng trong chương 2 Sáng Thế Ký này, A-đam tượng trưng cho cái “thân xác” của (hay cái “vỏ” chứa đựng) cái “hình ảnh bao gồm cả Âm Dương đến từ Đức Chúa Trời”, do đó những chữ như “xương”, “thịt”, “vợ”, “trần truồng” … được dùng vì đó là những chữ tương xứng, thích hợp với chữ “thân xác”. Khi “người nữ” (Ê-và) được tạo ra từ xương sườn của A-đam tức là lúc hai cái “Âm” và “Dương” được tách rời khỏi nhau, tượng trưng cho sự phân hóa thêm một lần nữa trên con đường đi xuống thế giới vật chất. Bởi vậy câu nói sau đây của A-đam ở cuối chương 2 Sáng Thế Ký có thể hiểu như để đánh dấu một cái mốc cho việc phải làm trên con đường “trở về”:
“Người nầy là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi mà ra. Người nầy sẽ được gọi là người nữ, vì nó do nơi người nam mà có. Bởi vậy cho nên người nam sẽ lìa cha mẹ mà dính díu cùng vợ mình, và cả hai sẽ trở nên một thịt.“ (STK 2:23, 2:24)
Nếu trên đường đi xuống, đi ra, mà “Âm” và “Dương” tách rời khỏi nhau, thì khi trở về, đi lên trở lại, “Âm” và “Dương” sẽ lại phải hợp nhất. Dùng biểu tượng (symbol) mà diễn tả, thì “Âm” là vợ của “Dương”. Sau khi đã lìa (đã đến từ) cha (tinh thần) và mẹ (vật chất), thì khi hợp nhất trở lại “Dương” sẽ phải “dính díu” với “Âm”, và “trở nên một thịt”, tức là trở lại trong một “thân xác”, trở về cùng một “thể” như lúc ban đầu, như khi chưa tách ra.
Câu cuối cùng của chương 2 Sáng Thế Ký: “Và, A-đam và vợ, cả hai đều trần truồng, mà chẳng hổ thẹn.“ nhấn mạnh tình trạng vẫn còn chưa hoàn toàn đi vào thế giới vật chất của hai thể Âm Dương lúc này, mặc dù sau khi đã tách rời nhau từ “thân xác” A-đam. “Trần truồng” có nghĩa là vẫn còn phần nào ở trạng thái “thần” (spirit), chưa được bao phủ, “che đậy” hoàn toàn bởi những “thể” thô trược hơn trong thế giới vật chất.
Trong chương tới của Sáng Thế Ký, chương 3, tiết 21, khi “Giê-hô-va Ðức Chúa Trời lấy da thú kết thành áo dài cho vợ chồng A-đam …“ thì đó mới là lúc hai thể Âm Dương được “bọc” thêm lần nữa trong lớp “vỏ” vật chất, và không còn “trần truồng” nữa (hiểu theo nghĩa bóng).
No comments:
Post a Comment