Phụ Chú Sáng Thế Ký Chương 3



Có hai điểm quan trọng, đáng chú ý trong chương 3 của Sáng Thế Ký, mặc dù người viết Thánh kinh đã không đề cập đến một cách trực tiếp, đó là:

- nguyên ủy của những gian truân, khốn khổ, khó nhọc của con người trong kiếp nhân sinh, tượng trưng qua cái gọi là “tội tổ tông” cùng sự “trừng phạt” của Giê-hô-va Đức Chúa Trời.
- nguyên ủy của cái Ác (Evil) tượng trưng qua hình ảnh “con rắn”, và những “rắc rối” bắt nguồn từ đó.

(1) Đời là Bể Khổ…

Tương truyền, sau khi chứng quả giác ngộ, những giáo lý căn bản đầu tiên được Phật thuyết giảng là Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo. Tứ Diệu Đế là bốn Chân Lý Cao Quí (tiếng Anh dịch là The Four Noble Truths), đại khái có thể tóm tắt như sau:

- Khổ Đế:  bản chất của cuộc đời là khổ não.
- Tập Đế:  nguyên nhân của Khổ là sự ham muốn và ghét bỏ.
- Diệt Đế:  Khổ sẽ (tiêu) diệt khi gốc của mọi ham muốn và ghét bỏ được tận diệt.
- Đạo Đế:  Con đường dẫn đến sự diệt khổ là Bát Chánh Đạo. (Con Đường Tám Nhánh, tiếng Anh dịch là The Eightfold Path. Bát Chánh Đạo hơi ngoài phạm vi đang bàn luận nên tạm thời không nói đến chi tiết của nó ở đây).

Khổ Đế:
“Đời là Bể Khổ“ là Chân lý về Sự Khổ (hay “Khổ Đế”).  Nói một cách tổng quát, chân lý này cho rằng tất cả mọi dạng hiện hữu, mọi thứ tồn tại, đều mang tính chất khổ não, không trọn vẹn. Chữ “khổ” ở đây, theo nghĩa gốc của nó, ám chỉ một cái gì … trục trặc, sai khớp, không ổn, không trọn vẹn, không hoàn hảo. Hiểu theo ý nghĩa sâu rộng nhất, “Đời là Bể Khổ“ cũng tương tự như cái sự kiện “Đất” (hay cõi vật chất) có những cái “không ổn”, sai lạc, cần phải tu chỉnh, sửa chữa, như đã nói đến trong phần diễn giảng về lý do mà Thượng Đế tạo ra “con người” trong chương 1 của Sáng Thế Ký (nếu quên, xem lại phần “Diễn Giải Sáng Thế Ký Chương 1”, nhất là các trang 8, 9 và 10).

Tập Đế:
Sau “Khổ Đế” thì “Tập Đế” là Đế thứ hai trong Tứ Diệu Đế. Tập Đế là Chân lý nói về sự phát sinh của “khổ”.  Nguyên nhân của “cái Khổ” có thể được tóm tắt trong một chữ “Dục”, để chỉ tất cả những ham muốn cần được thỏa mãn: thỏa mãn vì đạt được (sở hữu được, hay trở thành được những cái mình ưa thích); hoặc thỏa mãn vì tránh được (thoát khỏi, hay tiêu trừ, hủy diệt, những cái mình ghét, sợ).

“Dục”, hiểu ở mức sâu xa nhất, chính là tiềm lực kích phát mọi “chuyển động” (movement), thúc đẩy một sự việc “di chuyển” từ khởi điểm, là trạng thái đương thời, đương hiện hữu; đến cái đích, là  trạng thái ấn định bởi một “ước muốn”, đã được hình dung trong tư tưởng.

Tuy nhiên, “chuyển động” (movement) lại là đặc tính căn bản, là sự Hiển Thị hay Thể Hiện (Manifestation) của những thứ như Sự Sống (Life), Sinh Hoạt (Activity), Tiến Trình (Process).  Do đó, có thể nói rằng “Dục” là … cỗi rễ, là cái gốc sâu xa nhất của … “Đời”, vì Đời là Sự Sống, là Sinh Hoạt, là kết nối của những chuỗi Tiến Trình theo thời gian.  Không có “Dục” thì không có “Đời”! 

“Dục” luôn luôn đi đôi với “Bản Ngã” (gọi tắt là cái “Ngã”, ở mức thấp nhất “Ngã” được xem như “cái Ta”) vì “Ngã” vừa là tác nhân, vừa là chứng nhân của “Dục”.  Tác nhân là người thi hành, người đi theo tiến trình do “Dục” đưa đẩy, đòi hỏi, hướng dẫn.  Chứng nhân là người tiếp nhận, người chứng thực kết quả, đích đến của tiến trình của “Dục”.  Rất khó nói là “Dục” đến từ “Ngã” (tức là tại có “Ngã” nên mới có “Dục”), hay là “Ngã” đến từ “Dục” (tức là “Dục” sinh ra “Ngã”). Tương tự như câu hỏi: “Con gà và quả trứng, cái nào nẩy sinh ra trước cái nào?”.

Theo thiển ý của người viết, “Dục” và “Ngã”, ở mức thâm tàng nhất, chì là MỘT. Cái ẩn tàng “bên trong”, chưa hiển thị (chưa manifested) là “Dục”. Một khi “Dục” hiển thị (manifested), hiện thân ra “bên ngoài”, thành tác nhân, chứng nhân, thì đó là “Ngã”.

Diệt Đế:
Đế thứ ba trong Tứ Diệu Đế là Diệt Đế. Theo Chân lý này thì khi “gốc” của  “Dục” không còn nữa (= tuyệt diệt, tiêu trừ), thì “Dục” … tiêu, mà “Dục” tiêu thì “Khổ” cũng … tiêu, vì nguyên nhân của “Khổ” là “Dục”.

Tuy nhiên, đây là điểm quan trọng, không phải nếu muốn hết “Khổ” thì chỉ cần … diệt “Dục”.  Có lẽ bởi thế, Đế sau cùng (Đạo Đế) mới nói rằng con đường dẫn đến sự diệt khổ là Bát Chánh Đạo, chứ không phải là … Diệt Dục Đạo!

“Diệt Dục” là một cái đích … huyễn hoặc, không tưởng, tựa như “người si nói mộng”, vì có hai điểu … không ổn trong ý niệm này:

- một là, nếu muốn diệt dục, thì ngoài bao nhiêu cái “dục” (ham muốn) đang có, giờ lại nẩy thêm ra một cái “dục” mới nữa, đó là sự … muốn diệt dục, như thế, tình hình, sự thể chỉ có tệ hơn, chứ không khá hơn!

- hai là, như đã diễn giải ở trên, “Dục” luôn luôn đi đôi với “Ngã”; mà ai là “người diệt dục” (là tác nhân) nếu không phải là … “Ngã”? Hơn nữa, “Dục” và “Ngã”, ở mức thâm tàng nhất, có khi chì là MỘT!  Diệt Dục cũng là diệt Ngã.  Làm sao “Ngã” có thể tự diệt được “Ngã”? (bằng cách … tự tử?)
 

(2) Duy Ngã Độc Tôn …

“Diệt Dục” còn là một chuyện viển vông, không tưởng, vì ở mức độ thâm sâu nhất (tối cao), “Dục” là sự kích phát nguyên thủy, đến từ … Thượng Đế, từ cái bản ngã “THẬT SỰ” và “DUY NHẤT”, để đem mọi sự từ trạng thái “không thể hiện” (unmanifested) sang trạng thái “thể hiện” (manifested), từ cái “…vô hình và trống không, sự mờ tối ở trên mặt vực…” (STK 1:2) sang chỗ “…phải có sự sáng; thì có sự sáng” (STK 1:3).

Theo tương truyền, ngay sau khi đản sinh, Phật Thích Ca bước đi bẩy bước, nở dưới chân bẩy hoa sen, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, và phát ngôn câu “Thiên Thượng Địa Hạ Duy Ngã Độc Tôn”.  Cái “Ngã” độc tôn này chính là cái “Ngã” đi đôi với cái “Dục” nguyên thủy, là Thượng Đế trong đạo Chúa, là Chân Như trong đạo Phật, là Thái Cực trong đạo Khổng, là Đạo (con Tạo) trong đạo Lão, v.v.

Qua những chi tiết vừa trình bày ở trên, chúng ta có thể thấy ngay cái cực kỳ khó khăn, nan giải của vấn đề “tội tổ tông” (đạo Chúa), hay “đời là bể khổ” (đạo Phật).  Nhìn từ quan điểm sâu xa nhất, đây không phải là một vấn đề hoàn toàn do loài người, của loài người, hay tùy thuộc vào loài người. Giải quyết vấn đề này rất có thể nằm ngoài, rất ngoài, khả năng của con người, mặc dù oái ăm là dù muốn dù không, con người cũng có dự phần vào, ít ra là ở tại thời điểm xuất phát của vấn đề.

Thêm vào đó, như đã diễn giải trong chương 3 của Sáng Thế Ký, nguyên ủy của sự gian truân, khổ ải trong kiếp nhân sinh không phải chỉ giới hạn ở vấn đề có một cái gì đó … không ổn, trắc trở, chưa hoàn chỉnh ngay tại khởi điểm kích phát của Sáng Thế, đòi hỏi con người phải gánh vác trọng trách nặng nề “chinh phục đất”; mà mọi sự còn trở nên … bết bát, nan giải hơn (ít nhất là gấp đôi) do sự kích phát kế tiếp để “nhập cuộc”, tượng trưng bởi việc … ăn trái cấm từ cây Kiến Thức (tức là cái “Dục” muốn được “…như Ðức Chúa Trời, biết điều thiện và điều ác” - STK 3:4).

Cái tai họa ở đây là đi đôi với cái “Dục” … Kiến Thức này, con người lại nảy ra một cái “Ngã” khác, do sự có ý thức về “cái ta” (self-awareness), tượng trưng qua việc … hổ thẹn, “…biết rằng mình lõa lồ, bèn lấy lá cây và đóng khố che thân” (STK 3:7).

Cái “Ngã” mới, đến từ cái “Biết” (Kiến Thức) này, có thể nói là cái “Ngã” … hơi bị lệch lạc, có vấn đề, hay nhẹ nhất cũng là cái “Ngã” không trung thực, không chân chính, vì trong cái “Ngã” này, hai nguyên tố căn bản, Dương và Âm, đã được (hay bị) tách rời ra (tượng trưng bằng A-đam và Ê-và) chứ không còn chỉ là một thể duy nhất (Dương+Âm) như trong cái “Ngã” … độc tôn nguyên thủy!

Do tai họa đến từ cái “Biết” mà con người … mất liên lạc mật thiết với bản thể THẬT SỰ của mình, với cái “Ngã” chân chính, nguyên thủy.  Trong hành trình tiến sâu vào cõi vật chất để thi hành sứ mạng “chinh phục đất”, đầy gian nan, hiểm trở, có khi còn quá hơn là hành trình đi thỉnh kinh của Đường tăng Tam Tạng trong truyện Tây Du Ký, con người lại còn phải tự gánh thêm không biết bao nhiêu bất lợi, khốn khó, khổ ải, gây ra bởi cái “Ngã” lệch lạc này (tạm gọi là “Thường Ngã”, tức là cái Ngã “không vô thường”, vì nó xuất phát từ cảnh giới của “linh hồn”, sẽ tương đối trường tồn, ít ra là cho tới khi con người làm xong sứ mạng “chinh phục đất”).

- vì mất liên lạc mật thiết với Chân Ngã, và chỉ thấy sự hiện hữu của mình qua Thường Ngã, con người luôn luôn cảm thấy hoang mang, mờ mịt về nguồn gốc của mình; nghi ngờ, lo ngại về mọi tồn vong, đồng thời ấp ủ một ước ao mơ hồ về … vĩnh cửu.  Cái dự cảm lúc nào cũng thấy … bấp bênh, không yên tâm về sự hiện hữu của mình này có thể là nguyên ủy, gốc rễ của nhu yếu khẩn thiết cần được vững bền, làm nẩy sinh ra … bản năng sinh tồn, sau hàng triệu năm tiến hóa (evolution) trong cõi vật chất.  Và bản năng sinh tồn là động lực mạnh nhất đưa đẩy con người vào những xung khắc, xung đột, đôi khi hung tàn, khốn khổ khốn nạn (một cách không cần thiết) đối với “bên ngoài” (với những gì không phải là … “ta”) .

- vì hai yếu tố Âm, Dương, đã bị tách rời nhau trong Thường Ngã, con người lúc nào cũng thấy … không trọn vẹn trong tâm thức, thiếu thốn một cái gì đó, luôn luôn bị thúc đẩy bởi một động lực cần tìm kiếm … “nửa kia của mình”, thể hiện qua nhu cầu đi tìm … tình yêu, hay … hạnh phúc, hay … ý nghĩa cuộc đời, trong kiếp nhân sinh. Đây cũng là một lầm lạc tai hại, đáng thương, vì vấn đề “không trọn vẹn” trong tâm thức này chỉ có thể được giải quyết ổn thỏa sau khi hai yếu tố Âm, Dương này lại được … nhập về với nhau thành một (“…và cả hai sẽ trở nên một thịt.“ - STK 2:24).  Sự “trọn vẹn” chỉ có thể đến từ những “kết trái bên trong”, không thể đem lại từ những “tìm kiếm bên ngoài”.

(3) Đâu là cội … Ác?

Mặc dù đa số con người bình thường (normal) đều có thể nhận định, phán xét, và trả lời rất dễ dàng (với tự tin) những câu hỏi như: “Thế nào là Ác?”, “Tại sao lại lên án (xem) là Ác?”, ... nghị luận về cái Ác (Evil) là một việc cực kỳ khó khăn và phức tạp, không phải là chủ đích của người viết ở đây.

Tuy nhiên, vì trong câu chuyện “Tội Tổ Tông” của Sáng Thế Ký, “con rắn” thường được xem như hiện thân của “cái Ác”, cội nguồn của “chúa Quỷ” (the Devil) sau này, ít ra là bởi đa số tín đồ đạo Chúa, có lẽ chúng ta nên liệt kê ra một vài học thuyết (hay triết thuyết) chính về nguyên ủy của “cái Ác” ở đây để làm khởi điểm suy luận cho những ai có … hứng thú với vấn đề này. Có thể có ít nhất là bốn thuyết chính:

(a) Thuyết “Tuyệt Đối”:
Thượng Đế là hiện thân của cái “Tuyệt Đối Thiện” (Absolute Good), không dính líu gì đến cái “Tuyệt Đối Ác” (Absolute Evil hay The Devil).  Cái Ác hiện diện chỉ vì sự hiển thị của Thượng Đế chưa được đầy đủ, toàn vẹn.  Bóng Tối chỉ là sự vắng mặt của Ánh Sáng. Một khi, và ở đâu, cái “Tuyệt Đối Thiện” thể hiện thì cái Ác sẽ tự động … biến mất.

Triết thuyết “tuyệt đối” này mặc dù hơi lạc lõng và khó biện minh trong một thế giới mà ai cũng có thể thấy là mọi sự đều … “tương đối” (cao/thấp, phải/trái, trên/dưới, trước/sau, đen/trắng, v.v.).  Tuy nhiên dường như đây là triết thuyết được nhiều người tin tưởng, ủng hộ nhất, đặc biệt là với tín đồ của các tôn giáo độc thần (tôn giáo tôn thờ một đấng Tối Cao duy nhất).  

(b) Thuyết “Tại Thiên”:  (Tại Trời, Do Thượng Đế mà ra) 
Thượng Đế tạo ra cái Ác, ban đầu là để … thử thách con người, và sau đó là để … trừng phạt con người.  Thượng Đế cho con người quyền tự do lựa chọn (còn gọi là “free will” hay “tự do ý chí”) giữa Thiện và Ác.  Con người đã chọn, chẳng những “không vâng lời Thượng Đế”, mà còn đi … “nghe lời con rắn”. Sự lựa chọn, bỏ Thiện theo Ác, của con người đã rõ ràng.  Thượng Đế là đấng toàn năng (all powerful), có thể tiêu trừ cái Ác dễ dàng, nhưng … không can thiệp, bỏ mặc, kệ thây cho con người … biết mặt đá vàng!  Chỉ khi nào con người … “hối lỗi, biết nhận lỗi”, quay về thú tội với Thượng Đế, xin Thượng Đế tha thứ, thì lúc đó vấn đề cái Ác mới được giải quyết ổn thỏa.

Triết thuyết “cái Ác đến từ … Thượng Đế” này, tuy hơi … khủng khiếp, nhưng lại có thể dẫn chứng được từ, ít nhất là hai chỗ, trong Thánh kinh:

- “Vả, trong các loài thú đồng mà Giê-hô-va Ðức Chúa Trời đã làm nên, có con rắn là giống quỉ quyệt hơn hết...” (STK 3:1)  theo câu này thì rõ ràng GIê-hô-va Đức Chúa Trời đã tạo ra “con rắn” (tượng trưng của “cái Ác”).

- “…Ta là Ðức Giê-hô-va, không có đấng nào khác. Ấy chính ta là Ðấng gây nên sự sáng và dựng nên sự tối tăm, làm ra sự bình an và dựng nên sự tai vạ; chính ta, là Ðức Giê-hô-va, làm mọi sự đó.” (kinh Ê-sai 45:6 và 45:7)

Bản tiếng Việt dịch là “…dựng nên sự tai vạ;”, nhưng bản tiếng Anh nói rõ ràng hơn là “… create evil;”, nguyên văn như sau: “…I am the LORD, and there is none else. I form the light, and create darkness; I make peace, and create evil; I the LORD do all these things.” (kinh Isaiah 45:6, 45:7)

(c) Thuyết “Tương Đối”:
Thiện và Ác chỉ tương tự như hai mặt của một đồng tiền, hai cực của một thanh nam châm. Cái này chỉ có ý nghĩa vì có sự hiện diện của cái kia. Thêm vào đó, Thiện và Ác không phải là những thứ có “bản thể” hay “thực chất” rõ ràng, nhất định của chúng, mà chỉ là những “định nghĩa” diễn tả hai “tính chất” tương phản nhau, dựa trên những qui ước, tiêu chuẩn, định đoạt bởi một cá nhân, hoặc một cộng đồng, một tập thể (thí dụ: như thế này là Thiện, như thế này là Ác, v.v).

Triết thuyết “tương đối” này hoàn toàn nghịch với triết thyết “tuyệt đối” diễn tả ở phần (a) phía trên.  Thiện và Ác ở đây chỉ là những “tính chất” gán ghép cho những hành động trong các liên hệ đối xử với nhau giữa các phần tử trong một tập thể. Tiêu chuẩn làm căn bản hướng dẫn cho những “gán ghép” này không nhất thiết lúc nào cũng cố định, mà có thể thay đổi tùy theo hệ thống giá trị “đạo đức” của tập thể.  Điều đó có nghĩa là phán xét, nhận định về Thiện và Ác không phải chỉ có thể khác biệt trong những tập thể khác nhau, mà còn có thể biến thiên theo thời gian trong cùng một tập thể.

Triết thuyết này, xét cho cùng, chỉ là một hệ luận của khẳng định “Mọi vật đều không có tự tánh” thường thuyết giảng trong đạo Phật, nhất là ở các hệ phái Thiền (Zen). Một thực thể hoàn toàn độc lập sẽ không có “tính chất” gì cả.  Tính chất của nó chỉ “hiển hiện” qua sự giao tiếp (hay liên hệ) giữa nó và những gì “không phải là nó” ở chung quanh. Và tính chất này “sinh ra” do sự nhận định, phán xét của những tâm thức có liên quan, dính líu trong sự giao tiếp đó.

Một thực thể hoàn toàn độc lập không thể liên hệ với bất cứ cái gì khác. Mọi liên hệ (relationship) đòi hỏi ít nhất là phải “có hai” (phía), hay nói khác đi, Thiện và Ác, theo triết thyết này chỉ là một trong những thể hiện (manifestation) của Lưỡng Nghi, với “giá trị” chẳng khác gì những thể hiện tương tự như: cao/thấp, phải/trái, trên/dưới, trước/sau, đen/trắng, v.v.

(d) Thuyết “Tại Ngã”:  (Tại Cái Ta, Do Cái Ta mà ra) 
Sau cùng là một triết thuyết xem Thiện Ác chỉ là những “biện minh” (rationals) nẩy sinh từ tâm thức, sau khi tâm thức nhận định và trải nghiệm những sự kiện đến từ ngoại giới. Những sự kiện này là kết quả của những hợp lực quay cuồng trong ngoại giới, và tâm thức dùng “biện minh” để gán ghép “ý nghĩa” (meaning), cũng như “giá trị” (value) cho những trải nghiệm này.
 
Theo triết thuyết này, mọi sự kiện xảy ra trong thiên nhiên, chỉ tuân theo một qui luật duy nhất, đó là “Mạnh được Yếu thua”.  Mạnh / Yếu là tính chất của Lực. Nguyên ủy kích phát của Lực là “Dục” và “Ngã”. Thế giới con người là một tập thể gồm rất nhiều “ngã” phân hóa từ một cái “Ngã” nguyên thủy, “THẬT SỰ” và “DUY NHẤT”. Sự phân hóa này dần dà đưa đến xung khắc giữa những cái “dục” và “ngã” khác nhau là điều không thể tránh được.  “Dục” và “Ngã” có thể đến từ cá nhân, của từng cá nhân; mà “Dục” và “Ngã” cũng có thể là một “tổng hợp” đến từ tập thể (collectively), của từng tập thể.  Xung khắc có thể xảy ra giữa cá nhân với cá nhân, hoặc giữa cá nhân với tập thể, hoặc giữa các tập thể với nhau.

Kết quả của mọi xung đột, xung khắc hiển nhiên chỉ tuân theo qui luật “Mạnh được Yếu thua”, tuy nhiên thường thường, nếu không muốn nói là luôn luôn, một khi kết quả trùng hợp với chiều hướng trông chờ của “dục” thì “giá trị” của sự kiện sẽ được xem như là “Thiện” đã … thắng; ngược lại, nếu kết quả xảy ra ngược với chiều hướng trông chờ của “dục” thì “giá trị” của sự kiện sẽ được xem như là … bằng chứng của “cái Ác hoành hành”!

Tóm lại, vì “Thiện / Ác” tự nó không phải là những thực thể “có sẵn”, mà chỉ là những “sáng tạo” đến từ tâm thức, triết thuyết này xem nguyên ủy của “Ác” (hay “Thiện”) chính là do “ngã”, do cái “Thường Ngã” … lệch lạc, phân hóa ra từ cái “Ngã” nguyên thủy, chân chính trên tiến trình thể hiện (manifestation) vào cõi vật chất.

Sau cùng, một chi tiết lý thú liên quan đến thuyết này cũng đáng được ghi chú ở đây cho những ai muốn … nghiền ngẫm thêm:  Một triết gia Ấn Độ, rất nổi tiếng suốt thế kỷ 20, ông Jiddu Krishnamurti (1895-1986), người đã từng được các hội Thông Thiên Học (Theosophy) ở khắp các nước xem là đấng Thế Sư (World Teacher, Thầy của Thế giới), đã từng nói về “cái Ta” (Ngã) đại để như sau:

“Ý nghĩa của ”cái Ta” là gì? Cái Ta là tổng hợp của tư tưởng, trí nhớ, kết luận, kinh nghiệm, của đủ mọi dạng ý định có tên hay không tên, của ý thức cố gắng được như thế này hay thế khác, của mọi tích lũy trong ký ức vô thức về chủng tộc, về dòng giống, cá nhân hay tập thể, và tất cả những thứ đó, hiển thị ra ngoài qua hành động, hay phản ảnh trong nội tâm như đức tính, phẩm hạnh.  Sự khuông phò, phấn đấu chạy theo tất cả những thứ ấy là …cái Ta.  Nó bao gồm cả mọi ganh đua, và ước muốn (“dục”) được là một cái gì đó.  Toàn bộ tiến trình đó là cái Ta, và khi đối diện với nó, chúng ta sẽ thật sự biết nó là cái Ác.  Tôi cố ý dùng chữ “cái Ác” ở đây, vì cái Ta luôn chia rẽ, cái Ta luôn tự khép kín: mọi hoạt động của nó, dù là cao quí đến đâu, cũng đều  chia rẽ và cô lập. Chúng ta biết thế cả. Chúng ta cũng biết được những khoảnh khắc phi thường, khi cái Ta vắng mặt, khi không hề có ý cần đến một nổ lực hay cố gắng gì cả, và điều đó (chỉ) xảy ra khi có tình thương.”

(đoạn trên dịch thoát từ nguyên bản tiếng Anh, trích từ tiêu đề “What Are You Doing with Your Life?”, thuyết giảng bởi Krishnamurti, như sau:

“Do we know what we mean by the self? By that, I mean the idea, the memory, the conclusion, the experience, the various forms of nameable and unnameable intentions, the conscious endeavor to be or not to be, the accumulated memory of the unconscious, the racial, the group, the individual, the clan, and the whole of it all, whether it is projected outwardly in action or projected spiritually as virtue; the striving after all this is the self. In it is included the competition, the desire to be. The whole process of that is the self; and we know actually when we are faced with it that it is an evil thing. I am using the word 'evil' intentionally, because the self is dividing: the self is self-enclosing: its activities, however noble, are separative and isolating. We know all this. We also know those extraordinary moments when the self is not there, in which there is no sense of endeavor, of effort, and which happens when there is love.”)


No comments:

Post a Comment