Cuộc sống trong vườn Địa Đàng của A-đam / Ê-và cứ thế mà trôi chảy êm đẹp theo dòng đời, cho đến một ngày, có thể là vì tò mò, hoặc … buồn chán (hoặc cả hai?), Ê-và dạo bước đến gần cây Kiến Thức, ngắm nghía những trái đẹp như trái táo của nó. Ngờ đâu có con rắn “quỉ quyệt” ở trên cây, thấy Ê-và có vẻ “hứng thú” chiêm ngưỡng mấy trái này, bèn nảy ra ý tưởng dụ dỗ, “mời” Ê-và … thưởng thức chúng. Khi Ê-và nhớ ra, và lập lại lời dặn của Thượng Đế với A-đam, thì con rắn mới … tiết lộ cho Ê-và rằng chẳng những khi ăn trái của cây Kiến Thức này vào, ngươi sẽ không chết, mà còn “mở mắt ra”, biết được mọi điều Thiện và Ác, giống như Thượng Đế. Ê-và có lẽ cũng chưa biết thế nào là Thiện Ác (và chắc cũng chẳng hứng thú muốn biết làm gì), nhưng thấy trái của cây đó trông đẹp mắt, coi bộ ăn ngon, và quí, vì nghe nói có thể “mở trí khôn”, sẽ được trở thành “giống như Thượng Đế” thì thích lắm, bèn hái và … ăn ngay “trái cấm” (chắc là có ý định khi “giống như Thượng Đế” thì sẽ “nặn” ra một A-đam mới, trông bớt chán mắt hơn … - đây chỉ là sự đoán mò của người viết!)
Đồng thời Ê-và cũng gọi A-đam đến và đưa “trái cấm” cho A-đam ăn luôn. A-đam rất nhớ lời Thượng Đế dặn, và cũng rất sợ Thượng Đế, nhưng không biết vì sao vẫn nghe lời Ê-và mà ăn “trái cấm” (không thấy chuyện nói rõ lý do, nhưng người viết cũng lại đoán mò, đây có lẽ cũng là nguồn gốc của câu thành ngữ “Nhất vợ, nhì Trời, ba mới tới tôi”). Chuyện kể rằng, sau khi ăn “trái cấm” thì hai người “mở mắt ra”, biết rằng mình … lõa lồ, bèn hổ thẹn lấy lá làm khố che thân, và đi trốn, lánh mặt Thượng Đế (chẳng hiểu mấy sự kiện này có dính dáng gì đến chuyện “biết được mọi điều Thiện và Ác”?)
Lẽ dĩ nhiên là chẳng trốn được bao lâu, rốt cuộc hai người vẫn bị Thượng Đế gọi ra “vấn tội”. A-đam đổ tại Ê-và. Ê-và đổ tại con rắn. Con rắn im thin thít. Thượng Đế phán cho con rắn rằng từ giờ ngươi sẽ là một con vật bị nguyền rủa, ta sẽ gây ra sự thù nghịch giữa ngươi và con người. Ngươi sẽ cắn gót chân con người, và con người sẽ dẫm đạp lên đầu ngươi. Tuy nhiên A-đam và Ê-và vẫn không … thoát tội. Thượng Đế bảo Ê-và rằng ta sẽ thêm điều cực khổ cho ngươi trong khi thai nghén, và ngươi sẽ chịu đau đớn khi sanh con. Còn với A-đam thi Thượng Đế nói tại ngươi nghe lời vợ mà ăn trái cây ta đã dặn không nên ăn, từ giờ trở đi ngươi sẽ phải chịu khó nhọc, làm đổ mồ hôi trán mới có vật đất sinh ra mà ăn (chắc cũng tương tự như “làm mửa mật”); chẳng những thế đất còn sinh chông gai và cây “tật lệ” để thêm phần khó khăn cho ngươi (người viết cũng chẳng hiểu cây “tật lệ” là cây gì? nhưng trong Thánh kinh viết thế).
Sau đó Thượng Đế lấy da thú may áo dài cho A-đam và Ê-và mặc, đoạn đuổi cả hai ra khỏi vườn Địa Đàng, vì e ngại rằng nếu còn để A-đam và Ê-và ở lại trong vườn Địa Đàng, có ngày hai người sẽ ăn luôn cả trái của cây Sự Sống (Tree of Life) và sẽ trở nên … bất tử giống như Thượng Đế. Từ đó bắt đầu thế giới của loài người. Tất cả con người đều là con cháu hậu duệ của A-đam và Ê-và, đều phải chịu “hình phạt” của “tội tổ tông”, phải làm lụng cực khổ (“đổ mồ hôi trán”) mới có thức ăn mà sống, và đàn bà thì phải chịu thêm chuyện “mang nặng đẻ đau”.
Câu chuyện kể trên, không phải chỉ dùng để trả lời những câu hỏi thắc mắc về nguồn gốc, cũng như về sự vất vả, khổ cực của thế giới loài người, mà còn để khuyến cáo rằng con người, ai vừa sinh ra cũng đều đã là … “có tội” với Thượng Đế, và chỉ khi nào Thượng Đế tha thứ, ân xá cho thì mới có thể coi như đã … đền tội, đã trả xong cái nợ nần của “tội tổ tông” này, và khi đó mới có cơ hội trở lại với đời sống vĩnh cửu, sung sướng, hạnh phúc trong vườn Địa Đàng như xưa (đôi khi hình như còn gọi là “được lên Thiên Đàng”!).
~ ! ~

No comments:
Post a Comment