Diễn giải chương 3 của Sáng Thế Ký không dễ dàng vì tất cả đã được viết như một câu chuyện rõ ràng thuộc về thế giới vật chất với thân xác phàm trần của hai nhân vật chính (A-đam và Ê-và) và những danh từ, động từ “cụ thể” như “con rắn”, “trái cây”, “lá cây”, “ăn”, “mở mắt”, “đóng khố che thân”, “cày cấy đất”, v.v.
Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn hoàn toàn dưới khía cạnh “nghĩa đen”, thì câu chuyện kể lại qua chương này có vài điểm “vô lý” và mâu thuẫn, ”khó hiểu” như sau:
(1) Theo lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời thì sau khi ăn vào hay đá động đến trái của cây Kiến thức thì A-đam và Ê-và sẽ “phải chết”. Trong khi đó thì “con rắn” lại nói với Ê-và rằng ”Hai ngươi chẳng chết đâu; …”, chẳng những thế mà lại còn “… ngày nào hai ngươi ăn trái cây đó, mắt mình mở ra, sẽ như Ðức Chúa Trời, biết điều thiện và điều ác” (STK 3:5). Hiển nhiên, trong lời “tiên đoán” của hai bên này, chỉ một bên là có thể “đúng sự thật” như những gì xảy ra sau đó (nếu hiểu hoàn toàn dưới khía cạnh “nghĩa đen”).
Sau khi ăn “trái cấm” rồi thì A-đam / Ê-và chẳng những “vẫn sống”, mà còn “mắt hai người đều mở ra, biết rằng mình lõa lồ, …” (STK 3:7), đồng thời, chính Giê-hô-va Đức Chúa Trời cũng lo rằng: “…về sự phân biệt điều thiện và điều ác, loài người đã thành một bực như chúng ta;…” (STK 3:22). Tất cả đều đúng như lời “con rắn” nói. Như thế chẳng hóa ra lời nói của “con rắn” (…là giống quỉ quyệt hơn hết. - theo như STK 3:1) lại “thành thật” hơn lời nói của Giê-hô-va Đức Chúa Trời sao?
(2) Sáng Thế Ký tiết 3:7 kể rằng, sau khi ăn trái của cây Kiến Thức, thì “mắt hai người đều mở ra, biết rằng mình lõa lồ, …”, như thế chẳng hóa ra trong suốt khoảng thời gian trước đó (trước khi ăn “trái cấm”) cả hai người (A-đam và Ê-và) đều … mù sao? (nếu hiểu theo sát “nghĩa đen”). Nhưng trước đó, có thấy Sáng Thế Ký diễn tả sự kiện nào chứng tỏ rằng A-đam và Ê-và cùng mù đâu?
(3) Theo như tin tưởng phổ thông trong đại chúng, cũng như sự giảng dậy của giáo hội thì “tội tổ tông” của loài người bắt nguồn từ việc “ăn trái cấm” này, vì đã “không vâng lời”, bất tuân mệnh lệnh của Giê-hô-va Đức Chúa Trời. Nhưng trước khi “ăn trái cấm”, là trái của Cây Kiến Thức để biết “phân biệt điều thiện và điều ác” thì làm sao Ê-và (và A-đam) có thể biết được “không vâng lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời” là … điều xấu? là “có tội”?
Luật pháp ở bất cứ đâu trên thế giới này đều không hề bắt tội hay kết án những trẻ thơ “phạm pháp”, nhưng được xem là chưa đủ trưởng thành để “biết” phân biệt phải / trái, tốt / xấu; chẳng lẽ ở cảnh giới “cao” như của Giê-hô-va Đức Chúa Trời mà còn không công minh được bằng luật pháp của thế giới trần tục này hay sao?
(4) Hãy cứ cho như việc “không vâng lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời” (ăn trái cấm) là một “cái tội” đi (dù rằng trước khi ăn, A-đam và Ê-và không thể “biết” được đó là “điều xấu”), thế nhưng những “hình phạt” cùng những lời “nguyền rủa” của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban ra cho “con rắn” cùng A-đam và Ê-và sau đó, liệu có xứng đáng với một vị ở cảnh giới “cao” như thế hay không?
Thánk kinh vẫn giảng dậy rằng loài người là “con của Thượng Đế”. Ngay cả ở trong thế giới trần tục này, liệu có bậc cha mẹ nào có thể nhẫn tâm ban phát những “hình phạt” nặng nề kinh khủng tương đương như thế cho con cái mình chỉ vì chúng đã “không vâng lời” mình trong một chuyện “nhỏ nhặt” như vậy không? (Có thể nói, nếu hiểu theo sát nghĩa đen, như lời kể của Sáng Thế Ký, thì “tội” của A-đam và Ê-và ở đây có thể xem như chỉ là tội … “ăn vụng”, mà cũng là “lần đầu tiên”, không phải là … ngoan cố “tái phạm”)
Tất cả những khúc mắc “khó hiểu” nêu trên đều có thể được giải thích thỏa đáng nếu không nhất quyết diễn dịch mọi sự theo sát “nghĩa đen” (literally). Chẳng những thế, người đọc còn cần đề cao cảnh giác khi đối đầu với những điểm “vô lý” hay oái ăm (ngược ngạo với suy luận, hay với “đạo lý” thông thường) trong Thánk kinh, vì đó thường là nơi ẩn giấu, tiềm tàng những “sự thật” chưa thể tiết lộ hay diễn tả rõ ràng, mạch lạc vào thời điểm Thánh kinh được viết ra.
(1) Trước hết, chữ “chết” dùng trong câu chuyện ở Sáng Thế Ký chương 3 này mang hai ý nghĩa khác nhau, tùy theo “người” nói. Với Giê-hô-va Đức Chúa Trời, “chết” có nghĩa là “đi xuống một cảnh giới thấp hơn”, đi sâu thêm vào cõi vật chất. Với “con rắn”, chữ “chết” lại được dùng như là để hiểu theo nghĩa … thông thường. Bởi thế, có thể nói là cả hai vai trò này, Giê-hô-va Đức Chúa Trời và “con rắn”, đều … không nói dối.
Sau khi ăn “trái cấm”, A-đam và Ê-và quả là “không chết”, như “con rắn” nói, nếu “chết” hiểu theo nghĩa thông thường, nhưng đồng thời cả hai đều “chết”, hiểu theo nghĩa của Giê-hô-va Đức Chúa Trời, vì sau đó cả hai đều bị “đuổi ra khỏi vườn Ê-đen“, và “mặc vào áo dài bằng da thú”, tức là đi từ một cảnh giới cao (vườn Địa đàng Ê-đen) xuống một cảnh giới thấp hơn (= chết). “Chết” là vì “năng lượng thần” đi sâu thêm vào cõi vật chất, được “bọc” thêm lần nữa trong lớp “vỏ” vật chất thô trược hơn, tượng trưng bằng việc được bao phủ thêm bởi bộ áo dài bằng da thú.
Ý nghĩa của chữ “Chết”, khi dùng như một biểu tượng (symbolically) để diễn tả hiện tượng “tinh thần (spirit) đi sâu vào thế giới vật chất” (đôi khi còn gọi là “sự sa ngã”), hay để diễn tả việc tinh thần đi từ một cảnh giới cao xuống một cảnh giới thấp (thô trược) hơn, là một trong những “chìa khóa” (key) căn bản và quan trọng nhất để làm sáng tỏ những khái niệm mấu chốt đề cập đến trong Thánh kinh như:
- Chúa “chết” để “đền tội” cho nhân loại.
- Sự “phục sinh” của Chúa sau khi “chết”.
- Sự cần thiết của “tái sinh” (hay “sanh lại”, born again) để được thấy nước Chúa như viết trong kinh Giăng 3:3: “Ðức Chúa Jêsus cất tiếng đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng sanh lại, thì không thể thấy được nước Ðức Chúa Trời.“.
“Chết” và “Phục Sinh” ở đây không phải là sự “chết đi rồi sống lại” của cái thân xác xương thịt vật lý như chúng ta tưởng tượng (giống như trong các truyện kinh dị, quỷ nhập tràng!), mà là ám chỉ sự đi vào thế giới vật chất (= Chết) của Tinh Thần (Spirit) để hoàn thành sứ mạng do Thượng Đế giao phó (sứ mạng này còn gọi là “cứu chuộc”, hay “đền tội”, hay “làm cho đất phục tùng“, “đất” ở đây tượng trưng cho “thế giới vật chất”); và sau khi hoàn tất sứ mạng (còn gọi là “giải thoát” hay “đắc đạo”), cái gọi là Tinh Thần lại trở về “nhà” của mình, nơi mình phát xuất từ nguyên thủy xa xưa (tức là Sống Lại, hay Phục Sinh).
(2) Hiểu theo nghĩa tượng trưng, thì vì A-đam và Ê-và chỉ là biểu tượng, không phải là hai con người với thân xác vật lý, sự kiện “mắt” của A-đam và Ê-và “đều mở ra, biết rằng mình lõa lồ,… “, không dính líu gì đến chuyện Sáng Thế Ký không hề nói đến việc A-đam và Ê-và sáng hay mù trước đó, mà chỉ có ý nghĩa đánh dấu một mốc tới cho một giai đoạn mới trên con đường đi xuống, đi vào thế giới vật chất của “con người”: giai đoạn bắt đầu có “tâm thức” (= Biết), có ý thức về bản ngã (self-awareness, ẩn dụ qua biểu tượng “biết rằng mình lõa lồ, bèn lấy lá cây và đóng khố che thân“ - STK 3:7).
(3) Khác với sự tin tưởng thông thường, phổ thông trong đại chúng, cái “tội” (nếu có thể gọi là “tội”) của A-đam và Ê-và ở đây không phải là việc không nghe lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời, “ăn vụng trái cấm”, mà là ở chỗ “biết rằng mình lõa lồ, bèn lấy lá cây và đóng khố che thân“! (STK 3:7).
Ngay cả chuyện “ăn trái cấm” để rồi “biết điều thiện và điều ác” cũng chưa hẳn đã là một cái “tội”. Chuyện “sai lạc, lầm lẫn”, đầu mối của mọi rắc rối, hay “tội lỗi” (nếu có thể gọi là “tội”) của A-đam và Ê-và ở đây là sự kích phát một nguồn lực, hay năng lượng (tượng trưng bởi cái “Biết”), không đúng với dự trình, trong khi hai “thực thể” tượng trưng cho “loài người” này (A-đam / Ê-và) không chính thức ở vào vị thế có thể am hiểu, phát huy, hay điều khiển, xử dụng năng lượng đó.
Hiểu theo nghĩa biểu tượng (symbolically) thì khi đi sâu thêm vào cõi vật chất, những năng lượng “thần” không phải chỉ “chết”, mà còn được xem là không còn “trần truồng” nữa, vì đã được bao phủ, che đậy bởi lớp vỏ vật chất. Sự kiện “biết rằng mình lõa lồ“ đưa đến việc “đóng khố che thân“ của A-đam và Ê-và là một việc làm “tai họa” vì nó tượng trưng cho việc đem cái “quyền năng sáng tạo” vào trong cõi vật chất (biểu tượng qua hình ảnh “che đậy cơ quan sinh sản”, the generative organs).
Trong A-đam và Ê-và ần tàng hai yếu tố Dương và Âm đến từ Đức Chúa Trời (God), mang theo “quyền năng sáng tạo” của Thượng Đế. Đem cái “quyền năng sáng tạo” này vào trong cõi vật chất có nghĩa là A-đam và Ê-và (tượng trưng cho “Con Người”) sẽ có thể “sáng tạo” mọi thứ trong cõi vật chất, mà không có ai giám thị hay kiểm soát hết. Thêm vào đó, A-đam / Ê-và không phải là Thượng Đế, mà chỉ là “hình ảnh” của Thượng Đế. Chẳng những thế, hình ảnh này lại không hẳn là hình ảnh “trung thực” vì hai yếu tố Dương / Âm đã tách ra rồi, chứ không còn là một thể duy nhất như khi mới phóng xuất từ Thượng Đế nữa. Sự kiện tiềm năng sáng tạo ngang hàng với Thượng Đế có triển vọng bị lạm dụng và thoán đoạt trong cõi vật chất là một việc Giê-hô-va Đức Chúa Trời không thể, hay không dám lơ là, thông qua được.
(Chú ý: Ngay cả Giê-hô-va Đức Chúa Trời cũng không “dùng” nhiều đến “quyền năng sáng tạo” này. Đấng này chỉ bắt tay vào việc sau khi “trời đất và muôn vật đã dựng nên xong rồi.” (STK 2:1). Giê-hô-va Đức Chúa Trời chỉ dùng những vật liệu sẵn có để “kiến tạo” thêm, như dùng “… bụi đất nắn nên hình người” (STK 2:7) để tạo ra A-đam; hay “dùng xương sườn đã lấy nơi A-đam làm nên một người nữ,..” (STK 2:22), v.v.)
(4) Đức Chúa Trời (God) tạo ra “Con Người” qua sự phóng xuất “hình ảnh” của mình, để thể hiện ra ở những cảnh giới “thấp” hơn, gần với “vật chất” hơn, với mục đích tu chỉnh, sửa chữa một sự kiện “không ổn” gì đó trong cõi “vật chất” (hay “Đất”). Sứ mạng chính của “Con Người” là “hãy làm cho đất phục tùng” (STK 1:28), chứ không phải là để đem “quyền năng sáng tạo” vào trong cõi “vật chất”. Chẳng những thế, sự kiện A-đam và Ê-và, sau khi đã “… lấy lá cây và đóng khố che thân“ (STK 3:7), lại còn … ẩn mình trong bụi cây để tránh mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời: “Tôi có nghe tiếng Chúa trong vườn, bèn sợ, bởi vì tôi lõa lồ, nên đi ẩn mình“ (STK 3:10), có thể nói là tương đương với việc dấu diếm, lén lút đem “hàng cấm” vào trong cõi “vật chất”, dù rằng khá chắc đó là … tình ngay lý gian! Tất cả là hậu quả của sự kích phát một nguồn lực, hay năng lượng không đúng lúc (tượng trưng bởi cái “Biết”, sau khi ăn “trái cấm”) trong khi “Con Người” chưa sẵn sàng, hay chưa “được phép”.
“Con Người” chưa làm được gì trong sứ mạng của mình thì (nhẹ nhất là) lại đã gieo mầm mống cho một “tai họa” mới. Đó mới là “tội tổ tông” thật sự (nếu có thể gọi là “tội”) chứ không phải là vì không nghe lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời, đi ăn vụng “trái cấm”. Do đó, để giảm thiểu đến mức tối đa tiềm năng của mọi hậu quả tai hại có thể xảy ra do sự đem “quyền năng sáng tạo” vào trong cõi “vật chất” này, Giê-hô-va Đức Chúa Trời bèn dùng đến biện pháp “mạnh”, bằng cách bọc thêm một “lớp vỏ vật chất” thô trược hơn nữa ở bên ngoài “Con Người”, tượng trưng qua sự: “…lấy da thú kết thành áo dài cho vợ chồng A-đam, và mặc lấy cho.” (STK 3:21).
“Áo dài kết từ da thú” là biểu tượng (symbol) tượng trưng cho thân xác xương thịt vật lý của “Con Người” hiện giờ. Sở dĩ dùng “da thú” làm biểu tượng bởi vì thân xác vật lý này đến từ thế giới loài vật (animal kingdom), là sản phẩm của những chu trình tiến hóa (evolution) qua hàng triệu năm. Nên nhớ là “vợ chồng A-đam“ trong Sáng Thế Ký ở đây không phải là những “xác thịt” phàm trần, mà là biểu tượng cho những “thực thể” vẫn còn hiện hữu ở một cảnh giới “vật chất” khá cao. Biện pháp “mạnh” của Giê-hô-va Đức Chúa Trời là biểu tượng diễn tả sự kiện những thực thể này bị “hãm lại” (giam cầm) qua cái gọi là “chu trình tiến hóa” trong cõi “vật chất”, đi qua các thế giới đất đá (mineral kingdom), thực vật (vegetable kingdom), động vật (animal kingdom), và sau cùng là “loài người” (human kingdom).
(5) Những lời “nguyền rủa” cũng như những diễn tả (có vẻ là) về những “hình phạt” của Giê-hô-va Đức Chúa Trời giáng xuống trong chương 3 Sáng Thế Ký này, thật ra chỉ là những tường thuật bóng gió, phát biểu một cách bí hiểm (có thể là để tránh “tiết lộ thiên cơ”), của người viết Thánh kinh, về một vài dữ kiện liên quan đến “Sự Thật” trong hành trình tiến hóa của “Con Người” qua cõi vật chất. Cần nhắc lại là hầu hết những gì viết ra trong mấy chương này của Sáng Thế Ký đểu là dùng “biểu tượng” (symbols) để kết cấu ra một câu chuyện có tình tiết, từ đó đạt tới mục đích “thông tri” về những vấn đề mà người viết Thánh kinh, vì những lý do nào đó, không muốn, hay không thể diễn tả một cách … thẳng thừng, “cụ thể”, rành rành với nghĩa đen (literally).
Hai chữ “rủa sả” như dùng trong lời của Giê-hô-va Đức Chúa Trời nói với “con rắn”: “…mầy sẽ bị rủa sả trong vòng các loài súc vật,…“ (STK 3:14), và với A-đam: “…vậy, đất sẽ bị rủa sả vì ngươi;…“ (STK 3:17) là dịch từ chữ “cursed” trong bản tiếng Anh. Động từ “Curse” có nghĩa chính là “phát biểu qua lời nói hay cử chỉ mang tính cách thề nguyền, tiên đoán cho một sự xui xẻo, tai ương hay hiểm họa có triển vọng sẽ xảy đến”.
Như đã diễn giải trong phần nói về chương 1 của Sáng Thế Ký, mục đích của Đức Chúa Trời (God) khi tạo ra “con người” là để giao cho một “sứ mệnh”, mà việc chính yếu là “…làm cho đất phục tùng..“ (STK 1:28). “Đất” ở đây tượng trưng cho tất cả những gì thuộc về cõi vật chất, kể cả những gì cần phải “tu chỉnh” (chinh phục) trong cõi vật chất. A-đam lại cũng được làm ra từ “bụi đất” (STK 2:7), tượng trưng cho một lớp vỏ vật chất bao bọc “con người thật sự”, nguyên thủy (Dương+Âm) ở bên trong. Lớp vỏ vật chất này (tức là A-đam), nay lại sắp được khoác thêm một lớp vỏ vật chất thô trược hơn nữa, tức là lớp “áo dài kết từ da thú” (STK 3:21).
A-đam tuy được cấu tạo từ một thành phần ít “thô trược” nhất của “đất” (vì chỉ là “bụi đất”), nhưng bản thể vẫn là … “đất”. Sứ mệnh chính của A-đam lại là “chinh phục đất”, và trong cái “đất” ấy, ngoài những cái “xấu”, cái “ác” cần phải chinh phục, giờ lại ẩn tàng lẫn lộn cả “quyền năng sáng tạo” vô tình được nhập vào sau khi ăn “trái cấm”, một quyền năng mà có thể nói là ngoài khả năng điều khiển, ứng dụng, hay đối phó của A-đam. Thử hỏi một “hỗn hợp” như thế thì làm sao có thể tránh được những “nội loạn”, tranh đấu, xung khắc, tai ương, rắc rối kịch liệt trong tương lai. Bởi biết trước như vậy nên Giê-hô-va Đức Chúa Trời mới phải nói: “…vậy, đất sẽ bị rủa sả vì ngươi;…“ (STK 3:17).
“Người Nữ” là biểu tượng của cái thể “Âm”, được tách ra từ “hình hài đầu tiên của con người nguyên thủy” (A-đam) để “làm nên một kẻ giúp đỡ..” (STK 2:18) vì “về phần A-đam, thì chẳng tìm được một ai giúp đỡ giống như mình hết..” (STK 2:20). Sứ mệnh của “A-đam”, như đã diễn giải trong phần về Sáng Thế Ký chương 1, bao gồm cả việc “đạt được nhiều thành quả, và phát triển hơn lên“. Trong vai trò của thể “Âm”, việc ấy có thể nói là tượng trưng bằng sự … sanh đẻ, thai nghén. Giê-hô-va Đức Chúa Trời biết rằng bộ “áo dài kết từ da thú” (= một lớp vỏ vật chất thô trược nữa) mà mình sắp “bọc” thêm cho A-đam và Ê-và, sẽ tạo thêm khó khăn, gian khổ trong việc “chinh phục đất” lên nhiều (ít nhất là … gấp đôi), do đó Giê-hô-va Đức Chúa Trời mới: “..phán cùng người nữ rằng: Ta sẽ thêm điều cực khổ bội phần trong cơn thai nghén; ngươi sẽ chịu đau đớn mỗi khi sanh con; ..“ (STK 3:16)
Chẳng những thế, người viết Thánh kinh còn “mượn lời” Giê-hô-va Đức Chúa Trời để “báo trước” về những cực kỳ khó khăn, gian lao, khổ ải của suốt cuộc hành trình đi vào cõi vật chất để “chinh phục đất” của “con người”, từ đầu đến cuối, qua những câu như: “…trọn đời ngươi phải chịu khó nhọc mới có vật đất sanh ra mà ăn.“ (STK 3:17), và còn tệ hơn nữa:
“Đất sẽ sanh chông gai và cây tật lệ, và ngươi sẽ ăn rau của đồng ruộng; ngươi sẽ làm đổ mồ hôi trán mới có mà ăn, cho đến ngày nào ngươi trở về đất, là nơi mà có ngươi ra; vì ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về bụi.“ (STK 3:18 và 3:19)
A-đam do Giê-hô-va Đức Chúa Trời nặn ra từ “bụi đất” (STK 2:7), do đó “là bụi“, nên sẽ phải “trở về bụi“. A-đam, như đã diễn giải, không phải là một cá nhân bằng xương thịt, mà là biểu tượng, tượng trưng cho “con người”. Cái ngày mà “con người” thành công, làm xong sứ mạng “chinh phục đất” giao phó bởi Thượng Đế (God, hay Đức Chúa Trời) mới là ngày A-đam “trở về đất“, trở về nơi “có ngươi ra“ (tức là nơi từ đó ngươi được “làm ra, tạo ra”).
(6) Nhìn từ một khía cạnh tổng quát, A-đam (và Ê-và) chỉ là những “phương tiện” để cái “hình ảnh của Thượng Đế” (tức là Con Người Thật Sự) tiếp tục tiến sâu vào cõi vật chất trong việc thi hành sứ mạng “chinh phục đất”. Khi nào sứ mạng hoàn tất, A-đam (và Ê-và) sẽ phải “trở về đất“. Nói trắng ra, “con người”, mà biểu tượng là A-đam (và Ê-và), chỉ tương tự như một loại “dụng cụ” (không phải là “Con Người Thật Sự”), không phải được tạo ra để … sống đời đời trong cảnh giới tượng trưng bởi vườn Địa Đàng. Đó là lý do tại sao Giê-hô-va Đức Chúa Trời phải “đuổi” A-đam (và Ê-và) ra khỏi vườn Địa Đàng, sau khi đã … “lo ngại” rằng:
“…loài người đã thành một bực như chúng ta; vậy bây giờ, ta hãy coi chừng, e loài người giơ tay khiến cũng hái trái cây sự sống mà ăn và được sống đời đời chăng.” (STK 3:22)
(7) Ngày A-đam “trở về đất“ là ngày mà A-đam “đầu tiên” (nguyên thủy) đã “tiên đoán”, đã nói ngay từ Sáng Thế Ký, chương 2, tiết 24: “người nam sẽ … dính díu cùng vợ mình, và cả hai sẽ trở nên một thịt.”. Dương và Âm cuối cùng, sau khi đã “hoàn thành sứ mệnh”, sẽ lại hợp nhất, lại trở về dạng “thần”, lại trở thành “hình ảnh của Thượng Đế” (Dương+Âm) trong A-đam, trước khi A-đam “trở về đất“. Thánh Phao-lô (Saint Paul) trong chương 15 của kinh 1 Cô-rinh-tô (1 Corinthians 15) cũng viết về A-đam đầu và A-đam cuối như sau:
“Ấy vậy, có lời chép rằng: Người thứ nhứt là A-đam đã nên linh hồn sống. A-đam sau hết là thần ban sự sống.” (1 Cô-rinh-tô 15:45), và:
“Người thứ nhứt bởi đất mà ra, là thuộc về đất, người thứ hai bởi trời mà ra.“ (1 Cô-rinh-tô 15:47)
Bản tiếng Anh của hai câu trên, viết tương đối rõ ràng, dễ hiểu hơn, như sau:
“And so it is written, The first man Adam was made a living soul; the last Adam was made a quickening spirit.“ (1 Corinthians 15:45) và:
“The first man is of the earth, earthy: the second man is the Lord from heaven.“ (1 Corinthians 15:47)
A-đam “sau hết” (the last Adam), hay “người thứ hai” (the second man) này là “con người” lúc đã trở lại dạng “thần” nguyên thủy của mình, âm dương hợp nhất, sau khi “hoàn thành sứ mệnh chinh phục đất”, sau khi “đắc đạo”. Cái gọi là “con người” (thứ hai) lúc này, coi như đã đạt tới cảnh giới tương đương với …“trời” (“…the second man is the Lord from heaven.“ (1 Corinthians 15:47), vẫn sẽ còn một chuyện cuối cùng phải làm, đó là … trở về hội nhập với Thượng Đế (God, hay Đức Chúa Trời), và trả lại cái “hình hài”, cái “vỏ” A-đam … “trở về đất“, vì … “ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về bụi.” (STK 3:19). Điều này cũng ứng với lời chúa Jesus nói:
“…Vật chi của Sê-sa hãy trả lại cho Sê-sa, còn vật chi của Ðức Chúa Trời hãy trả lại cho Ðức Chúa Trời.“ (kinh Mác 12:17), dịch từ bản tiếng Anh:
“…Render to Cæsar the things that are Cæsar's, and to God the things that are God's.“ (Mark 12:17) … “Sê-sa” ở đây là tượng trưng cho “cõi Vật Chất”.
No comments:
Post a Comment